Chư Pa

    Share
    avatar
    Kyo
    Sup-Moderator
    Sup-Moderator

    Tổng số bài gửi : 3007
    Join date : 24/02/2018
    Đến từ : Thành phố xanh

    Member Chư Pa

    Bài gửi by Kyo on Mon May 07, 2018 5:15 pm




    Hồi Ký của Vương mộng Long – k20



    Tường thuật trận Charlie với Tiểu đoàn 11 Nhảy dù của cố Trung tá Nguyễn Ðình Bảo trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, Phan Nhật Nam viết: “Chiến tranh miền núi là chiến tranh của cao điểm.”


    Chưa thật đầy đủ! Thiếu tướng Eduard Dietl, chỉ huy Sư đoàn 3 Sơn Cước (Gebirgs-Division 3) của Lục quân Ðức, sau khi chiếm Narvik phía Bắc Na Uy tháng 4-1940, xác định: “Chiến tranh miền núi là chiến tranh giành những cao điểm khống chế các trục lộ.”

    Với cao độ 1485 thước, rừng già cùng dốc đá sát biên giới Việt-Miên, Chư Pa nhanh chóng thành căn cứ địa của Bắc quân. Lý do: từ Chư Pa, Cộng quân có thể cắt quốc lộ 14, cô lập Kontum cùng các căn cứ Dak-Tô, Dak-Pek, Tân-Cảnh phía Bắc cao nguyên.

    1969 – là năm của những hiểm nguy sau Mậu Thân. Liên đoàn 2 Biệt Ðộng Quân nhận lệnh vào Chư Pa. Thiếu tá Vương Mộng Long mà bạn đọc của tuần san Trẻ đã biết đến qua các hồi ký Ngày Ta Bỏ Núi, Tháng Tư Lại Về, Mậu Thân Hưu Chiến, khi ấy hãy còn là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại đội 1 của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Như luôn luôn, Trung úy Long cáng đáng nhiệm vụ đi đầu.

    Chư Pa sẽ hằn ghi ký ức của viên sĩ quan trẻ, để sau này thành một trong những hồi ký đầu tiên mà Thiếu tá Long viết trên đất Hoa Kỳ.

    Chư, trong tiếng thượng Jarai là ngọn núi. Chư Pa, là núi Pa. Núi của ký ức.

    Chuyện gì đã xảy ra tại “Chư Pa”? Hành quân, chạm địch, đụng độ hay tâm tình của những người lính cao nguyên? Qua “Chư Pa”, chúng ta sẽ xem lại khúc phim của một quân nhân ghi lại lần chạm trán giữa hai đơn vị thiện chiến của hai miền Nam-Bắc. Dân Việt thường nghe nhắc đến “Pháo đài bay B52” nhưng ít người tận mắt chứng kiến cảnh oanh kích. Ðọc “Chư Pa”, hai chữ “oanh tạc” trở nên cụ thể.

    Ðọc “Chư Pa”, cũng để hiểu thêm tình đồng đội và những mất mát của những người lính bình thường sau mỗi lần hành quân.

    Bản in lần này đã được Thiếu tá Long xem lại, hiệu đính và sửa chữa tại Seattle năm nay cho chuyên đề 30 tháng 4 của tuần san Trẻ. Một chuyên đề khác với hàng năm, không tưởng nhớ những tù đày, ly tán và nhục nhã. Trần Vũ



    Nguồn OVV – WordPress.com


    Kỳ 1



    Sau Tết Mậu-Thân hai tháng, vết thương đã lành, tôi xuất viện trở về đơn vị. Trung úy Phạm Văn Lương trả lại Ðại đội 1/Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân cho tôi. Anh Lương quay về đảm đương cái nghề cũ của anh là ban 3 tiểu đoàn. Thời gian này, Ðại úy Hồ Khắc Ðàm (k16 VB) đã thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Huân giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân.


    Trong nửa năm, đơn vị tôi đã tham gia hầu hết những chiến dịch lớn nhỏ của Task Force South quanh Ðà-Lạt, Blao, đặc biệt là những vùng núi non giáp ranh với Quảng-Ðức và Bình-Thuận. Cuối năm Mậu-Thân, Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân được chuyển về Pleiku, hành quân phối hợp với Không-Kỵ Hoa-Kỳ.

    Một ngày đầu năm 1969 chúng tôi có lệnh lên đường tham gia chiến dịch Bình-Tây 48. Cuộc hành quân hôm ấy nhằm mục đích săn diệt Trung đoàn E 24 /Mặt trận B3/ Cộng Sản Bắc Việt trong vùng núi Chư Pa giáp ranh sông Pơ-Kô.


    Sáng sớm ngày N, xe Quân Vận đưa chúng tôi từ Biển-Hồ (Pleiku) vào sân bay của trại Lực Lượng Ðặc-Biệt Lý Thái Lợi, Plei M‘rong.

    Trưởng trại Lý Thái Lợi cũng là một sĩ quan Võ-Bị, đó là Ðại-úy Huỳnh Châu Báo (khóa 17). Niên trưởng Báo đã tiếp đãi chúng tôi rất ân cần trong suốt thời gian chúng tôi nằm chờ trực thăng Mỹ tới bốc vào vùng.

    Ngày N, lành lạnh, cuối Ðông. Hôm đó là một ngày mùa khô cao nguyên. Mùa khô ở đây bầu trời mịt mù bụi khói đốt nương, đốt rẫy.

    Bãi thả chỉ cách sân bay Plei M‘rong chừng năm cây số. Từ bãi bốc Plei M‘rong chúng tôi thấy gunships Hoa-Kỳ dọn bãi ngay trước mặt, trên triền đồi tranh hướng tây suối Ru Ninh.

    Như thường lệ, mỗi khi tới một vùng hành quân lạ, đại đội tôi vẫn là đơn vị “tiên phuông” và theo chân Ðại đội 1/ Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân của tôi vẫn là Ðại đội 3/ Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân.




    Nguồn pinterest.com


    Dưới triều đại Hoàng Mai (danh xưng của Ðại úy Hồ Khắc Ðàm) đoàn hùng binh Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân luôn luôn được chia làm hai cánh: Cánh A là liên đội 1&3 do tôi (Trung úy Vương Mộng Long) chỉ huy, cánh B là liên đội 2&4 do Trung úy Nguyễn Lạn chỉ huy.

    Trái rocket sau cùng vừa nổ, tàu tôi đã “hover” trên ngọn tranh. Miệng hô “go! go!” chúng tôi nhảy đại xuống triền đồi. Cỏ cao quá đầu người. Chúng tôi nhắm mắt lao xuống. Vì phải nhảy từ trên quá cao, chúng tôi mất đà, nện đít xuống đất, thốn lưng, đau muốn chết!

    Những trái rocket xịt lửa, làm rừng cỏ tranh bốc cháy. Nấn ná ở chỗ này lâu chắc chắn thành bê thui! Thế là miệng hô, “Nhào lên! Bà con ơi!” chân bước tới, chúng tôi cố gắng xung phong lên bìa rừng xanh trên cao.

    Vào tới bìa rừng, tóc gáy tôi bỗng dựng ngược: Rừng già toàn cây cổ thụ; thân cây nào cũng cỡ hai ba người ôm; chân rừng trống trơn, thênh thang, toàn đá đen, lạnh lẽo, trơn trượt. Nếu có vài cây AK Việt-Cộng trụ sau những gốc cây “bành ky” này thì đoàn quân dưới kia chỉ là những cái bia sống ngon lành.

    Khi tôi lên tới đỉnh đồi thì Ðại đội 3/11 của Trung úy Phan Ngọc Quí còn ngồi trên HU1D. Lửa bắt đầu lan rộng về hướng triền dốc, bãi đáp đang cháy lớn.Trên đỉnh đồi cũng có một bãi cỏ tranh khá rộng. An ninh xong ngọn đồi mới chiếm cứ, tôi gọi đại úy tiểu đoàn trưởng và đề nghị ông chuyển bãi thả lên đỉnh đồi để cho Ðại đội 3/11 xuống chỗ tôi cho tiện. Hoàng Mai đồng ý ngay. Sau đó bộ chỉ huy tiểu đoàn và liên đội B cũng theo chân Ðại đội 3/11 xuống bãi này. Cuộc đổ bộ tuy ồn ào nhưng trót lọt, an toàn.

    Có tiếng Hoàng-Mai gọi: “Thái Sơn đây Hoàng Mai! Sẵn sàng chưa?”

    Thái Sơn là danh hiệu truyền tin của tôi.

    Tôi trả lời: “Sẵn sàng trăm phần trăm. Ðợi!”

    “Target số 1! Zu lu!”

    “Nhận Hoàng Mai 5!”

    Chiều rồi, trong rừng bắt đầu âm u, nhưng lệnh lên đường vẫn ra; người nhận được lệnh vẫn thi hành nghiêm chỉnh. Tôi gọi cho Trung úy Quí (Ðại đội trưởng 3/11), báo cho anh nhổ neo theo tôi.Tôi dặn anh nhớ bám sát, vì mặt trời đang lặn, đi trong rừng rất dễ mất dấu người đi trước.

    Tiến theo hướng Bắc chừng hai trăm mét, chúng tôi gặp đường voi thồ thênh thang theo hướng Tây Ðông. Chúng tôi bắt đầu quẹo trái để vào mục tiêu 1. Từ cao độ trên một ngàn thước đoàn quân lần lần thả dốc về Tây.

    Chúng tôi đang đi với đội hình một hàng dọc. Chợt bên tai tôi có tiếng người hò la trong rừng cùng tiếng chặt cây đốn gỗ. Một toán dò tin tức được gởi đi. Toán trở về báo cáo có một số dân Thượng đang phá rừng làm nương. Tôi cho qua chuyện này.

    Ðêm buông màn, nhưng đoàn quân vẫn tiếp tục theo lối mòn đổ dốc. Mỗi người phải giắt sau ba lô một khúc cây rừng mục. Cây rừng mục có lân tinh lấp lánh, làm dấu cho người sau đi theo không bị lạc.

    Chúng tôi bước trên đường mà cảm như đang bước chân trên thảm nhung. Lá rừng mục bao đời, lớp này phủ lên lớp khác dày cả gang. Cũng may, rừng vùng này không thấy vắt. Ði trên cao, bên tai gió ào ào, không nghe tiếng muỗi kêu.


    Ði được khoảng nửa cây số chúng tôi lại nghe tiếng nói chuyện ngay sát bên tai. Tiếng người lần này giọng Bắc. Trung đội đi đầu của Thiếu úy Ðinh Quang Biện vừa bố trí xong là nổ súng ngay. 

    Thì ra song song với trục đường chúng tôi đang đi, còn nhiều đường voi di chuyển khác. Cả một hệ thống đường thồ trong rừng, che giấu bởi tàn cây cao, phi cơ chụp không ảnh không phát hiện, không có trên bản đồ. Hai khẩu AK báng xếp cùng hai chiếc nón cối và hai cái balô được đem lên cho tôi khám nghiệm. Hai cán binh vừa bị hạ thuộc Ðại đội C17 Trinh sát của Trung đoàn E 24/Mặt Trận B3 (Danh từ Việt-Cộng quy định A là tiểu đội; B là trung đội; C là đại đội; D, H, K là tiểu đoàn; E là trung đoàn; F là sư đoàn).


    Ðêm đó tôi cho dừng quân, ngủ ngay trên đường thồ, và hôm sau thức dậy thật sớm.

    Sáng N+1 chúng tôi tiếp tục đổ dốc. Vẫn rừng già, trống chân, vẫn dấu chân voi, vẫn những con đường song song theo hướng Tây Ðông, vẫn những đống phân voi to như những cái thúng rải rác dọc đường thồ. Rừng nín thinh, nặng nề, đe dọa. Mỗi lùm cây, tảng đá đều có thể là nơi che giấu sự chết chóc.

    Ðại đội 1/11 đội hình nấc thang, từng bước, thận trọng, xuống đồi. Ðường bắt đầu ẩm ướt. Cái yên ngựa, trên bản đồ không ghi có nước. Vậy mà nước rì rào, róc rách. Nơi nào có nước, nơi đó có kẻ thù. Một lối mòn vắt ngang đường voi đi. Lối mòn chạy song song với con đường thông thủy. Lối mòn cũng theo hướng Bắc Nam. Trên lối mòn, vết dép Trường-Sơn còn mới. Thiếu úy Biện vừa báo cáo đặt xong hai nút chặn hai đầu vết mòn thì quân của Chuẩn úy Nguyễn Văn Danh đã kịp thời vượt lên thay vai trò tiên phong.


    Trung đội 2 của anh Chuẩn úy lính mới tò te Nguyễn Văn Danh, lần đầu ra trận, vừa qua khỏi ban chỉ huy đại đội, thì điểm chận lối mòn bên trái của Thiếu úy Biện đã có tiếng réo vang của một băng M16. Kế đó, Trung đội 3 của Biện hàng ngang xung phong bên trái nhanh như máy: Lại một khẩu AK 47 báng xếp, một cái nón cối, một balô của C17 Trinh sát/E 24/B3 bị tịch thu.




    Tôi tìm thấy, trong balô của tên Việt-Cộng vừa bị hạ có vài lá thư viết bằng mực xanh trên giấy học trò kẻ ô vuông, cùng một quyển album cỡ một bàn tay, trong đó chứa những tấm ảnh đen trắng nho nhỏ cạnh cắt răng cưa. Ảnh chụp từ nơi nào đó xa xôi ngoài Bắc: một cô gái quê, một bà mẹ quê, một mái rạ. Thư có những lời thương nhớ người đi B, những lời cầu Trời Phật phù hộ cho người ra trận được bình yên. Nước ảnh còn sáng. Màu giấy thư chưa vàng. Người bộ đội Cộng-Sản mới xâm nhập đã không bao giờ trở về miền Bắc nữa!

    Chúng tôi tiến rất chậm. Tất cả những lối mòn cắt ngang trục tiến quân đều phải đặt nút chặn. Tất cả các nút chặn đều phải được bàn giao kỹ càng cho đơn vị theo sau. Kinh nghiệm cách đây khá lâu, một lần hành quân vùng Ðông Lệ-Chí (Pleiku) đã cho thấy sự lợi hại của tao ngộ chiến. Hôm đó, trục tiến quân băng rừng của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng có con lộ cắt ngang.

    Một cán binh Việt-Cộng đã đụng đầu Hoàng Mai trên mặt lộ khi ông vừa chui ra khỏi rừng cỏ hôi. Cả ông tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân và tên Việt-Cộng đều giật mình phát hoảng. Cả hai người đều đứng khựng lại trố mắt nhìn nhau.

    Ông tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân không mang súng dài. Khẩu súng nòng 6.35 ly tí teo, nhỏ như cái hộp quẹt (đeo làm kiểu) của ông còn ở trong bao. Trên tay ông chỉ có cây gậy tre để đi rừng. Trong lúc quýnh quáng, ông tiểu đoàn trưởng đành quơ cây gậy tre vụt vụt loạn xạ trước mặt thằng Việt-Cộng, đồng thời miệng ông hét lớn: “Á!…Á!…Á!…”


    Bất ngờ đụng đầu một bộ rằn ri giữa rừng, thằng Việt-Cộng đã trở bộ muốn bỏ chạy thoát thân. Không ngờ tiếng thét của ông làm cho nó nhận ra ông là một kẻ thù không võ trang. Nó hoàn hồn, chĩa khẩu AK 47 ngay ngực ông đại úy. Tay trái nó run run nhích cao họng súng đen ngòm lên ngang trán ông. Nó tính bắn vào đầu ông! Tay chân ông bỗng cứng đơ. Hai mắt ông ngó trân trân vào mặt thằng Việt-Cộng. Mắt nó liếc tránh ra hướng khác. Ông thấy ngón tay trỏ, bàn tay phải của nó đang nằm trước cò súng. Rồi ngón tay đó siết vào cò. Ông hoa hai mắt. “Choác! Choác! Choác!” Ông ù hai tai.


    Ðạn tém sát thái dương ông đại úy. Ðạn làm bay cái mũ đi rừng bằng vải đen rộng vành ông đang đội trên đầu. Có lẽ thằng Việt-Cộng run tay, nên ba mươi viên AK đều bay cao, sượt da đầu ông đại úy Biệt Ðộng Quân. Bắn hết băng đạn mà thấy địch thủ còn đứng trơ trơ, thằng Việt-Cộng quay đầu chạy bán sống bán chết.

    Vài giây sau, ông đại úy hoàn hồn. Ông rút được khẩu 6.35 ly ra khỏi bao thì thằng Việt-Cộng đã khuất dạng. Lúc đó những Biệt Ðộng Quân cận vệ của ông tiểu đoàn trưởng mới chui ra khỏi rừng, tới đường. Họ ngơ ngác không hiểu tại sao Hoàng Mai tay cầm khẩu 6.35 ly mà tai họ nghe “choác! choác!” tiếng AK liên thanh?

    Ông đại úy tiểu đoàn trưởng đứng giữa đường quơ quơ cây gậy về hướng địch: “Nó chạy hướng này! Nó chạy hướng này!”

    Lúc đó toán hộ tống mới vỡ lẽ: chỉ chút téo nữa là sếp của họ đã đi đoong! Gỡ sĩ diện, họ reo hò: “Biệt Ðộng! Sát!”- “Biệt Ðộng! Sát! Tiến lên!” Lau lách hai bên đường mòn bị một phen bở vía. Ðạn M16 giòn giã đốn hoa, lá, cành, tre, nứa, ngã rạp tơi bời. Nhưng tên Việt Cộng đã “chạy mẹ nó mất rồi!”


    Hôm đó tôi đi đoạn hậu, chỉ nghe văng vẳng tiếng súng đàng trước. Mãi tới khi tôi chuyển quân hoán đổi nhiệm vụ cho liên đội B gặp anh Ðàm, tôi mới được anh chiếu lại chi tiết diễn tiến khúc phim tao ngộ chiến. Ðoạn phim diễn tả cảnh cái họng đen ngòm của khẩu AK47 đang nhắm ngay trán anh, làm tôi ớn lạnh xương sống. Sau khi quay xong đoạn phim đứng tim trên cho tôi nghe, anh Ðàm cười hí hí: “Hôm nay ta hơi quýnh một chút. Chứ đúng lý ra, ta đã bắt sống thằng Việt-Cộng này rồi đó! Nó gầy tong teo à!”

    Tôi cũng phụ hoạ theo: “Ðúng là thằng Việt-Cộng này còn hên! Lần sau vô phúc gặp anh, nó tới số!”

    Từ đó, mỗi lúc ra quân, Hoàng Mai luôn luôn nhắc nhở đàn em việc chặn nút khi gặp lối mòn. Từ đó, cũng đã có vài lần tao ngộ, phần thua lúc nào cũng về phía bên kia.

    “Cậu thấy chưa? Cứ gặp đường mòn mà chặn nút là có ăn! Ta nói có sai đâu? – Lần nào cũng thế, “có ăn” là anh Ðàm lại dài dòng kể lể công lao “phát minh” ra chiến thuật “chặn nút“.

    Hôm nay “nút chặn” của tôi “có ăn” thế nào anh Ðàm cũng vui lắm. Chắc chắn Thiếu úy Trần Lũy, đại đội trưởng đi bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn sẽ tha hồ mà nghe anh Ðàm thuyết giảng chiến thuật.


    (còn tiếp 3 kỳ)


    Seattle, ngày 06 tháng 06 năm 2006, xem lại và hiệu đính tháng 4-2018.
    VML-k20








    avatar
    Kyo
    Sup-Moderator
    Sup-Moderator

    Tổng số bài gửi : 3007
    Join date : 24/02/2018
    Đến từ : Thành phố xanh

    Member Chư Pa (kỳ 2)

    Bài gửi by Kyo on Fri Sep 14, 2018 10:06 pm



    Chư Pa (kỳ 2)



    Hồi Ký của Vương mộng Long – k20


    Xuống bình nguyên là nghe gió ngàn phần phật. Ðất giàu màu mỡ làm lau sậy mọc tràn lan. Toán tiền thám phải dọ dẫm từng bước. Những con lộ chính trong vùng địch kiểm soát chắc chắn không có mìn. Nhưng tình hình an ninh không cho phép ta chỉ đi trên lộ chính. Cái đáy trước của nấc thang phải bao gồm cả hai bên đường, lộ chính và lộ phụ.



     Ðặc biệt là di chuyển trên lối phụ dưới thung lũng rất dễ vướng bẫy thú của Thượng Cộng. Chỉ cần ta ơ hờ một chút, cái bẫy đã túm ngay một cẳng ta, treo ta lên cây. Ðã có lần tôi chứng kiến một chú heo rừng bị treo lơ lửng giữa không trung. Chú heo rừng nặng cả trăm ký tòn ten đung đưa giữa trời, miệng sùi bọt trắng. Nơi chúng tôi đang đi qua, nhiều bãi sình có dấu heo ủi, cả đàn. Nơi nào có heo rừng, có Thượng Cộng, thế nào cũng có bẫy.


    Ðường bắt đầu đi lên. Bi đông chàng nào cũng đầy nước. Núi trước mặt cao cỡ ngàn mốt, ngàn hai. Hai bên yên ngựa là vực sâu. Gió hú ù ù. Trời lạnh lắm. Càng lên cao càng lạnh. Mục tiêu 1 ở trên kia. Trên bản đồ hình thù của nó chỉ như hạt đậu. Thực tế đó là một ngọn đồi, một ngọn đồi có đủ cả các thành phần: chân, triền và đỉnh.

    Anh Ðàm có lẽ đã tới con thông thủy. Tôi nghe anh ra lệnh:

    “Thái Sơn cho lều võng, khói lửa được rồi! Nhớ nhấn tới trước vài vòng (cao độ) cho chắc ăn nghe chưa?”

    “Nhận 5!”

    Tôi tự nhủ: “Hoàng Mai khôn cách chi! Ổng thì ngủ dưới con thông thủy, vừa ấm áp vừa có nước. Ổng chơi ác! Bắt mình nằm chênh vênh giữa trời, chắc mình biến thành cục nước đá đêm nay mất thôi!”



    Ðêm đó hai Ðại đội 1&3 quây tròn trên mục tiêu 1. Tôi và anh Quí ngồi tâm sự tới khuya mới chia tay về lều. Quí là sĩ quan khóa đặc biệt. Anh về phục vụ tiểu đoàn này đã hơn hai năm. Anh ta gốc AET (Thiếu Sinh Quân) nên căn bản quân sự rất vững. Hai đứa tôi khá thân.

    Ðêm đó Quí thổ lộ với tôi rằng, sau Tết Âm Lịch anh ta sẽ cưới vợ. Vị hôn thê của Quí đang học Ðệ Nhị Trung học Bồ-Ðề, Pleiku. Anh say sưa nói về ngày mai, về giấc mộng con con, bình thường. Tôi cảm thấy vui lây cái vui của bạn.

    Tôi nghe đâu Thiếu úy Trần Lũy, đại đội trưởng Ðại đội 2/11 sắp cưới con gái ông Thượng sĩ Thường-Vụ của Tiểu đoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Còn anh Trung úy Nguyễn Lạn, đại đội trưởng Ðại đội 4/11 thì chuẩn bị neo thuyền trên bến Ðà-Lạt.


    Sắp Tết rồi! Ðám cưới! Vui quá đi thôi! Tha hồ mà nhậu! Thời buổi được mùa! Dưới trướng Hoàng Mai, sĩ quan chỉ huy của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân đắt đào ghê! Ông tiểu đoàn trưởng Hoàng Mai vừa mới “không vận” được một cô nữ sinh viên từ trường Chính-Trị Kinh-Doanh, Ðà-Lạt về cư xá sĩ quan làm áp trại phu nhân, thì nay đã tới phiên ba ông đại đội trưởng giã từ kiếp sống sê-li-bạt (célibataire).

    Như vậy thì, sau Tết Âm Lịch, trong số tứ sơn (Thái Sơn, Kỳ Sơn, Trường Sơn, Lam Sơn) chỉ còn có một mình Thái Sơn là tôi đây, vẫn lênh đênh như “con thuyền vô duyên” của nhạc sĩ Ðặng Thế Phong. Quả thiệt, về cái chuyện “nớ” thì tôi chậm lụt hơn chúng bạn nhiều.

    Thấy tôi có vẻ mắc cỡ, anh Quí an ủi: “Tại mày nhát gan, thấy gái là đỏ mặt, cấm khẩu. Chứ tao thấy mày can đảm chút nữa thì thiếu gì đào!”

    Nói đúng ra, trong thời gian qua, tôi cũng có nhiều dịp lọt vào “thị trường” của vài cặp mắt xanh ở thành phố Pleiku này. Nhưng mỗi khi chạm mặt “đối phương tóc dài” thì tôi lại lờ quờ.


    Ðôi khi tôi tự an ủi rằng nguyên nhân của sự chậm lụt này cũng do “thời thế” mà ra. Số là, đầu năm 1966, khi tôi làm đại đội trưởng Ðại đội 3/ Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân ở Ðà-Nẵng; vài bà bạn Bắc-Kỳ di cư của mẹ tôi ở Hội-An, đang cố gắng “siết chặt dây thân ái” (trích Võ Bị Hành Khúc) với mẹ tôi, hy vọng sẽ có ngày thành sui gia; thì đùng một cái, ông Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân, dẫn quân theo ông Nguyễn Chánh Thi, đảo chánh ông Nguyễn Cao Kỳ. Thời gian này Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân chỉ có ba đại đội 1, 3, 4 đóng quân tại sân vận động Chi-Lăng (Ðà-Nẵng), riêng Ðại đội 2/11 của Trung úy Tôn Thất Trực đang biệt phái cho quận Quế-Sơn.




    Ðảo chánh hụt, ông Thi lên máy bay chạy tuốt. 

    Ông Dzu trở cờ, chui vào phi trường theo ông Kỳ. Ông Kỳ cho ông Dzu lên thiếu tá, làm Cò Cảnh-Sát. Sau khi ông Dzu đi mất, tôi đã chỉ huy tiểu đoàn này tiếp tục chống ông Kỳ. Kết cuộc, Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị đổi vào Pleiku; Tiểu đoàn 21 Biệt Ðộng Quân từ Pleiku, được chuyển ra Ðà-Nẵng. Tôi bị “quất” tổng cộng chín chục củ: Ông Lãm (Tư Lệnh Vùng 1) phạt tôi 30 Trọng Cấm; ông Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng) phạt thêm 60 Trọng Cấm. Tôi còn bị đưa ra hội đồng kỷ luật Nha-Trang; bị giáng cấp; bị treo lon. Ðời tôi đi vào khúc quanh “lắc lư con tầu đi”. Thời gian này mẹ tôi buồn lắm. Những bà bạn của mẹ tôi thì, không ngần ngại cắt đứt ngay sợi “dây thân ái” với mẹ tôi.



    Ở Liên đoàn 2 Biệt Ðộng Quân (Pleiku) tôi gặp Trung tá Nguyễn Ðức Ninh liên đoàn trưởng, Thiếu tá Phạm Văn Toán liên đoàn phó, Ðại úy Nguyễn Văn Huân ban 3 và Trung úy Hồ Khắc Ðàm ban 2. Những vị này đã bao bọc tôi sống lất lây cho qua thời mạt rệp. Anh Huân dạy tôi nhiều thứ lắm, trong đó có món “kén vợ”.



    Anh Huân giảng giải: “Con gái nó ghê lắm! Chú mày lớ ngớ không điều tra kỹ, cứ tin cái miệng ngọt xớt của chúng nó là chú mày chết! Chưa tìm hiểu kỹ càng tông đường nhà nó, rước nó về. Vài năm sau nó cưỡi lên cổ chú nó ‘nhong! nhong!’ Rồi nó đẻ cho chú một bầy con. Nó đánh mắng con chú. Ðến lúc chú có cháu, nó đánh cháu chú. Ba đời nhà chú nằm trong tay nó. Hết đường cục cựa!”


    Vì ảnh hưởng lời khuyên của huấn luyện viên Nguyễn Văn Huân, gặp cô nào tôi cũng thủ thế, điều tra từ từ. Gặp nhau, tôi cứ quan sát địch thủ mà không ra chiêu nào, thủ khẩu như bình. Các cô thấy tôi ngồi nín khe lắng nghe, các cô cứ líu lo như chim vành khuyên. Các cô phát thanh chán chê rồi ngồi chờ tôi nói. Tôi chỉ toét miệng cười. Gặp nhau vài lần, câu chuyện đổi trao vẫn loanh quanh nắng mưa, mưa nắng. Hình như các cô chỉ chờ tôi nói nhỏ “Je t’aime” là các cô xỏ mũi tôi, lôi ra xe Jeep chở đi học để trình diện với bạn bè. 

    Các cô chờ tôi. Tôi cứ đánh trống lảng. Hai nhân vật ngồi nhìn nhau. Nhìn nhau mãi bắt chán! Thời gian qua đi vèo vèo. Vì thế, tôi ở Pleiku đã ba năm rồi “mà lòng thì chưa hề yêu ai” (nhạc Trần Thiện Thanh) Trong lều, đôi bạn tâm sự. Ngoài kia, gió rừng rít từng cơn. Ðêm Ðông, trong núi, lạnh kinh hồn.


    Sáng N+2 sau khi làm chủ ngọn núi cao trên 1200 mét, tôi bố quân chờ bộ chỉ huy tiểu đoàn. Mãi gần trưa liên đội B mới hoàn tất việc thay thế vị trí của liên đội A. Ðường tiến sang mục tiêu 2 không có gì khó đi. Nhưng dấu vết địch dẫy đầy, toàn dấu mới. Vừa đổ dốc được vài phút, Trung đội 3 đã chạm địch.

     Ðịch bắn trước, nhưng may mắn quân bạn không ai trúng đạn. Nửa trung đội đi bên trái lại vớt được một tên Việt Cộng, tịch thu một AK báng xếp. Trung đội 3 của Thiếu úy Biện lại lập chiến công lần nữa! Từ khi Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên, trung đội trưởng Trung đội 1 thuyên chuyển khỏi đại đội này cách đây vài tháng, thì anh Thiếu úy trẻ tuổi, đẹp trai, con nhà giàu Ðinh Quang Biện (khóa 25 TÐ) trở thành sĩ quan trung đội trưởng thâm niên nhất của đại đội tôi. 

    Thiếu úy Biện là trung đội trưởng duy nhất mà tôi dám cho đi “sô lô” một cánh riêng, xa hẳn ban chỉ huy đại đội trong những lần hành quân diều hâu quanh Pleiku.


    Anh Biện là một sĩ quan rất can trường và bén nhạy lúc chạm trận. Thêm vào đó, anh là người chỉ huy rất mát tay. Mặc dù mỗi khi hành quân, Trung đội 3 thường chạm địch nhiều hơn các trung đội khác, nhưng cả năm nay chưa có người lính nào dưới quyền anh tử trận. Kỳ này vào trận mới ba ngày, mà Trung đội 3 đã chạm địch ba lần.

    Trên ve áo tên cán binh Việt Cộng mới bị giết có cái quân hàm bằng nỉ màu đỏ, hai sao vàng trên một gạch vàng. Giấy tờ trong túi áo y cũng xác nhận rằng y chính là trung úy thủ trưởng C17/Trinh Sát/E24. Tôi báo cáo tin này cho Hoàng Mai, rồi chuyển gấp lên cho ông quyển sổ ghi danh sách toàn bộ Ðại đội C17 Trinh Sát/ E24 để Phòng 2 Quân đoàn II cho người xuống lấy.




    Tới tối, Hoàng Mai cho tôi biết kết quả khai thác tài liệu tịch thu được trưa nay xác nhận rằng, từ ngày vào vùng tới giờ đã có trên mười tên Việt Cộng bị Ðại đội 1/11 loại ra ngoài vòng chiến. Tiếc rằng sau mỗi lần chạm địch, tôi đã không chịu khó mở rộng vòng kiểm soát kết quả; vì vậy tôi tưởng chỉ có bốn tên địch bị giết trong ba lần chạm súng.


    Ngày N+3 tôi được lệnh tiến chiếm mục tiêu 3. Mục tiêu 3 nằm về hướng Bắc của chúng tôi. Mục tiêu là cái khoanh tròn bao trùm một đỉnh núi có cao độ 1485 mét. Tên ngọn núi này là Chư Pa. Vì không rõ trên núi có nước hay không, cho chắc ăn, tôi ra lệnh mỗi người đem trên vai hai ngày cơm vắt cùng một bi đông nước dự trữ. Quân tôi lên đường từ khi trời còn mờ sương.

    Qua một cái thung lũng rất sâu chúng tôi bắt đầu leo. Ðường dốc đứng, đá xanh, cạnh sắc như dao. Mỗi khi bản đồ ghi một vòng cao độ phình ra thì đó là một ngọn đồi. Ngọn đồi nào cũng vĩ đại. Cây rừng cao lắm, mà tàn lá thì đan nhau che kín ánh nắng mặt trời. Ðịa thế ở đây hoàn toàn không đúng với bản đồ. Ðịa thế khác hẳn những chi tiết ghi trên bản đồ vì bản đồ chỉ là bản sao của không ảnh chụp mặt đất có rừng cây che phủ.


    Khi băng ngang những dãy đồi kế tiếp nhau trên cao độ 1200 mét tôi cứ nơm nớp lo sợ bị tập kích bất ngờ. Lối mòn chằng chịt, đầy dấu xe thồ, dấu giầy vải, dấu dép râu. Ðại đội tôi đi đơn độc, vì Ðại đội 3/11 còn nằm lại với bộ chỉ huy tiểu đoàn nơi chúng tôi đóng quân đêm trước. Cánh B đã vào vùng hoạt động riêng của họ hướng Tây Nam.

    Tôi báo mọi tin tức thu lượm được về tiểu đoàn. Tôi xin anh Ðàm cho pháo binh Mỹ đánh tập trung trên những hỏa tập dự phòng hướng Tây. Tới trưa thì chúng tôi vượt qua khu nguy hiểm. Chúng tôi lên tới những vòng cao 1300. Lan rừng quệt trên nón sắt. Không thể ngờ rằng trên cao như thế mà trong rừng đầy khe, đầy suối. 

    Ban ngày mà răng chúng tôi đánh bò cạp, lạnh run. Phía trước có ánh sáng trên cao. Sắp tới đỉnh núi! Một mảnh trời xanh xuất hiện từ từ. Chúng tôi chui khỏi rừng già, ra tới một vạt cỏ tranh. Cỏ tranh vây quanh chân một tảng đá xanh. Tảng đá xanh trước mặt tôi là đỉnh Chư Pa cao 1485 mét. Tôi leo lên tảng đá để dễ bề quan sát địa thế.




    Bố quân xong, tôi dùng cái lưỡi lê M16 của Binh nhất Phạm Công Cường khắc lên mặt đá những dòng chữ sau đây:

    TA LÀ VUA (dòng đầu), Trung úy VƯƠNG MỘNG LONG (dòng thứ nhì), ÐÐT/ÐÐ1/TÐ11/BÐQ (dòng chót).

    Thời 1966 mới tới Pleiku, tôi hay lang thang ở sân nhà thờ “nhìn” những con chiên dễ thương của Chúa đi xưng tội sáng Chủ Nhật. Trong sân nhà thờ có pho tượng Chúa Kito với dòng chữ “TA LÀ VUA” dưới chân ông. Tôi mê dòng chữ đó quá. Từ đấy, trên những cái hộp quẹt ZIPPO của tôi, tôi đều thuê thợ khắc “TA LÀ VUA” ở một mặt. Mặt kia khắc cái đầu cọp và ba chữ tên tôi “VƯƠNG MỘNG LONG”. Nay có dịp khắc tên mình lên đá, tôi cũng lặp lại những dòng chữ trên. Cái đỉnh núi này chưa có ai đặt chân tới. Tôi chinh phục được nó. Tôi xác nhận chủ quyền của tôi đối với nó thì cũng là chuyện hợp lý thôi! Những năm sau, 

    tôi đã nhiều lần bay ngang qua đây, nhiều lần đóng quân trên đỉnh ngọn núi này. Ðầu năm 1971 tôi đã đổ bộ Tiểu đoàn 4 Mike-Force của tôi xuống đỉnh Chư-Pa. Chúng tôi xuống dốc, lục soát men theo bờ đông sông Pơ-Kô tới thác Yaly rồi tiến về trại Lệ-Khánh (Pơlei Kleng). Lần chót, vào tháng 6/1973 tôi nằm trên vị trí này năm ngày để dễ liên lạc truyền tin với toán viễn thám của Binh nhất Mok (Viễn Thám/ Phòng 2/ Bộ Chỉ Huy/ Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2) những dòng chữ tôi khắc trên đá vẫn còn đó.


    Chư Pa là một ngọn núi cao sừng sững án ngữ một vùng trời miền Tây Bắc Pleiku. Trên bản đồ tỷ lệ 1 trên 50 nghìn thì Chư Pa nằm cách Plei M’rong hơn một gang tay về bên trái. Ðỉnh núi là một tảng đá hình khối chữ nhật, cao cỡ mười mét, dài và rộng cỡ hai chục mét. Ðứng trên tảng đá đó, tôi có thể húp từng ngụm mây vào đầy phổi; giơ tay tóm, vén từng sợi mây đang dập dềnh trước mặt; rồi có cảm tưởng mình gần với trời hơn là với đất. 


    Dưới chân tôi, hướng Ðông Bắc là thác Yaly, chính Ðông là hồ Ia-Lou và trại Lý Thái Lợi, Plei M’rong, xa hơn là Quốc lộ 14 vòng vèo quanh chân núi. Trong tầm nhìn của tôi, đầu Bắc Quốc lộ 14 là đồi Chư Pao. Bên trái và xa hơn Chư-Pao là thành phố Kontum. Cuối Nam Quốc lộ 14 là đỉnh Dang Rơia (1478 mét). Bên phải rặng núi này là Biển-Hồ (Pleiku), hậu cứ của Liên đoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Hướng Tây Chư Pa là dòng Sé-San. Giữa dòng Sé-San có một cồn cát và đá, cây cối xanh rì. 

    Bên kia sông, hướng Tây-Tây-Bắc là hai đỉnh Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi. Ðàng sau những rặng núi trùng điệp đó là biên giới tỉnh Ratanakiri, Cambot. Chính hai ngọn Chư Pa (1485 mét) và Cư Ki Tem Da (1528 mét) cao vòi vọi đã ép dòng sông Pơ-Kô vào giữa, khiến nó dồn dòng, chảy qua một khúc quẹo ngặt nghèo, rồi đổ xuống cái thung lũng xanh tươi vùng Tây Plei Djereng. 


    Từ đây con sông Pơ-Kô mang tên mới là sông Sé-San thênh thang. Sé-San là đầu nguồn của sông Tônlé San (một nhánh tạo thành Cửu Long). Mùa Ðông, hai ngọn núi Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi mây xây thành trắng xóa. Ðỉnh của hai ngọn núi này đoi, chỉ có cỏ tranh, không có cây xanh. Buổi chiều, nắng chiếu ngược từ hướng Tây, tạo nên một cái nền đỏ rực sau lưng hai ngọn núi, cho ta cái cảm tưởng hai đỉnh núi là hai cục than hồng, hừng hực cháy giữa không trung. Mặt trời trên đường về quê hương Angkor đã để lại sau lưng nó những tia vàng lóng lánh.


     Mùa khô Tây Nguyên, đứng trên đỉnh Chư Pa vào lúc chớm đêm, thật là khó phân biệt được đâu là trời, đâu là đất. Ánh sáng lấp lánh, lập lòe trước mặt ta có thể là ánh sao trời, nhưng cũng có thể là ánh lửa từ nương rẫy đang cháy. Ðêm không trăng, trước mắt tôi là một không gian bồng bềnh. Tôi lâng lâng trong ảo giác vertigo (chóng mặt). Gió đuổi nhau từng cơn. Trong gió thoang thoảng hương lan rừng. Tiếng thác rì rào có lúc nghe thật gần, có lúc nghe rất xa. Thời gian qua chầm chậm, Chư Pa chìm từ từ xuống biển sương mông mênh.


    Sáng N+4 đại đội tôi xuống núi từ khi trời còn tối. Chúng tôi về tới triền Nam của Chư Pa vào lúc ban trưa. Tôi dừng quân trên đoạn yên ngựa án ngữ con đường thồ độc đạo ngay đỉnh một cái dốc của vòng cao 900 mét. Sau khi Hoàng Mai rời Ðại đội 3/11 để theo cánh B thì Ðại đội 3/11 nhổ neo đến với tôi. Tới chiều N+4 thì Ðại đội 3/11 bắt tay được Ðại đội 1/11.Từ ngày mai, Ðại đội 3/11 của Trung úy Quí sẽ giữ nhiệm vụ đi đầu. 


    Tôi báo cho Quí biết sự sai lệch giữa thực địa và bản đồ. Ðể chắc ăn, Quí cho một trung đội của Ðại đội 3/11 vượt qua Ðại đội 1/11 đóng chốt cách tôi khoảng hai trăm mét về hướng Tây. Sáng mai, từ tiền đồn này, quân của Quí tiến vào mục tiêu 4. Mục tiêu 4 nằm dưới vòng cao 500 mét. Theo dự trù, thì những ngày kế tiếp, cánh A sẽ đổ dốc, vòng qua mục tiêu 4 và 5 cho tới sát bờ Pơ-Kô thì quẹo trái để gặp cánh B nơi bờ sông có cái cồn cát lớn giữa dòng.


    (còn tiếp 2 kỳ)



    Seattle, ngày 06 tháng 06 năm 2006, xem lại và hiệu đính tháng 4-2018









      Hôm nay: Tue Oct 23, 2018 4:52 am